Chàng Là Bại Gia Tử Cơ Mà

Chương 12: Ta lời


Chương trước

*(Bùi Yến)*

Ta nhớ lần đầu ta nhìn thấy nàng.

Hôm ấy mưa.

Ta cầm một cái túi vải thô trong ngực áo, trong túi là một mảnh sắt ta mua ba đồng ở hàng sắt vụn ngoài cửa Đông. Ta đã đem nó đi hỏi bốn cái tiệm. Ba tiệm bảo sắt vụn. Tiệm thứ tư, một lão chưởng quầy soi nửa canh giờ, rồi chỉ vào mép trong.

"Một nét ngang, ba chấm." Lão nói. "Dấu của Nhất Ngôn Đường, phố Vĩnh Hòa. Cái này từng qua tiệm ấy."

Ta đi tới đó ngay chiều hôm ấy.

Ta không vào. Ta đứng ngoài, dưới hiên nhà đối diện, để xem cái tiệm ấy là hạng gì.

Trong tiệm có một ông chưởng quầy mù ngồi sau quầy.

Và có một cô nương.

Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro

Cô ta chừng mười bảy mười tám, xắn tay áo, cầm một cây nến, đang soi cái bình cho một ông khách béo. Soi xong, cô ta đặt bình xuống, nói đúng một chữ:

"Giả."

Ông khách nhảy dựng lên. Chửi. Đập bàn. Bảo cái bình này ông ta mua ba trăm lạng ở phố Chu Tước, tiệm to gấp mười tiệm này.

Cô nương ấy chẳng buồn cãi.

Cô ta chỉ đẩy cái bình về phía ông ta, rồi nói:

"Chú cứ đem sang tiệm khác. Tiệm khác nói thật, chú quay lại mắng cháu."

Ông khách ôm bình đi.

Cô ta cúi xuống, tiếp tục lau quầy.

Ta đứng dưới mưa, nhìn cái tiệm bé tí ấy, và ta nghĩ:

Ba năm nay ta bán cả cái nhà mình để mua sự thật. Ta mua ở những tiệm to. Ta mua bằng nghìn lạng. Ta mua toàn hàng giả.

Còn ở đây, một con bé lau quầy vừa cho không một ông khách lạ cái sự thật ba trăm lạng, và nó không thèm lấy một đồng.

Hôm ấy ta tới để tra một cái tiệm.

Ta ra về với một quyết định cưới người ta.

Ngụy Thường Sinh bị xử trảm mùa thu năm ấy. Thông Nguyên thương hội tịch biên.

Trong kho của ông ta, người ta tìm thấy ba món đồ của mẹ ta: một cây trâm phượng, một cái vòng ngọc, một cái hộp gỗ.

Ông ta không hủy chúng.

Ta hỏi Tô Trân vì sao. Nàng nghĩ một lúc, rồi nói: "Vì nó đẹp."

Tưởng Kính Chi dâng sớ tự nhận tội. Bốn ngày sau có chỉ: cách chức, tước hàm, trí sĩ về quê.

Không chém.

Ba mươi bảy người trong lưới, xử hai mươi, còn lại giáng, điều, cho về.

Cha ta được minh oan. Bốn chữ *khinh địch, thất thủ* xóa khỏi hồ sơ, thay bằng một dòng dài hơn, tử tế hơn, và chẳng nói lên được cái gì cả.

Ta đứng trong Đại lý tự nghe người ta đọc cái dòng ấy, và ta nghĩ:

Bốn mươi mốt món. Ba năm. Cái nghiên mực của ông nội, cặp chén ngọc, con ngựa của cha, bức Thu Sơn Đồ mẹ ta thích nhất.

Ta bán tất cả để mua một dòng chữ trong một cái hộp hồ sơ mà không ai đọc.

Có kẻ hỏi ta thế thì bõ không.

Ta chẳng biết trả lời thế nào.

Ba nghìn người kia vẫn nằm dưới cát. Chẳng có bốn chữ nào đào họ lên được.

Đàm lão bị xử.

Ta xin quan một chuyện.

Ta xin đừng lưu ông đi Lĩnh Nam. Ta xin đổi án: bắt ông khắc tên ba nghìn người ở Vọng Sa lên một tấm bia đồng, khắc xong mới được chết.

Quan hỏi ta thế là nặng hay nhẹ.

Ta bảo ông ấy tự biết.

Bia dựng ở ngoài cửa Bắc, chỗ đường ra ải.

Mùa đông năm ngoái ta ra xem. Ông lão ngồi đó, chân quấn giẻ, tay phải cụt ngón cái, kẹp cái đục vào kẽ tay, giơ búa lên.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Ta đứng nghe suốt một canh giờ.

Ba năm trước, ta đứng trên tường thành Vọng Sa nghe đúng cái tiếng ấy suốt một đêm. Ba nghìn lần.

Bây giờ nó cũng vang ba nghìn lần.

Ta không biết gọi cái đó là gì. Ta chỉ biết ta đứng đấy, và lần đầu tiên trong ba năm, ta nghe cái tiếng ấy mà không phải quay mặt đi.

Nhất Ngôn Đường dựng lại mùa xuân.

Vẫn phố Vĩnh Hòa. Vẫn ba gian. Biển hiệu khắc lại theo đúng nét cụ nàng, gỗ lim, sơn son.

Ngày treo biển, nhạc phụ ta bảo bắc thang.

Ông trèo lên — một ông già mù, bảy mươi tuổi, cả phố đứng dưới thót tim — rồi ông đưa tay lên, sờ.

Ông sờ từng nét một. Chậm. Đều.

Ba chữ, ông sờ hết một khắc.

Rồi ông gật đầu.

"Đúng nét cụ." Ông nói. "Cái móc chữ Đường hơi cụt. Cụ ta khắc hụt, chửi thề, rồi lười không sửa."

Cả phố cười ầm.

Mắt ông không chữa được. Ta đã hỏi khắp. Có người bảo còn cách, có người bảo thôi đừng hành ông cụ.

Tô Trân bảo thôi.

"Cha ta nhìn bằng tay tám năm nay rồi." Nàng nói. "Ông nhìn rõ hơn ta."

Ta trả nàng cây trâm phượng thật.

Nàng cầm lên, xoay dưới nắng một vòng, ngắm hai viên hồng bảo thạch thật đỏ như máu.

Rồi nàng cất nó vào hộp, đóng nắp lại.

Và cắm cây trâm giả lên đầu.

Ta không hỏi.

Ta biết giá của nó.

Đêm sau phiên xử ở phủ doãn, nàng ngồi trên bậc thềm, ăn kẹo mạch nha, chân đung đưa.

"Bùi Yến."

"Ừ."

"Ta tính lại cuộc mua bán hồi tháng ba rồi."

Ta ngồi xuống cạnh nàng. Cách một khoảng.

"Rồi sao?"

"Ta hớ."

Ta không nói gì.

"Hớ nặng." Nàng nói, mắt nhìn thẳng ra sân, tai đỏ ửng. "Ta tưởng ta mua một tấm biển hiệu. Hóa ra ta trả tiền một tấm biển hiệu mà vác về một đống nợ, một vụ án, một cái tiệm cháy, với một thằng chồng ba năm không ngủ."

"Ừ."

"Nhưng ta không trả hàng."

Ta ngồi đó, giữa đêm, trong cái phủ trống trơn còn bốn mươi mốt món đồ giả.

Và ta nghĩ: cả đời ta chưa mua được món nào lời như thế.

Người trong thành đến giờ vẫn kể: năm ấy Vĩnh Xương Bá phủ sắp sập, ông Bá gia nát rượu cưới về một con bé tiệm cầm đồ. Cả kinh thành bảo con bé ấy hớ. Rồi chẳng hiểu sao, hai đứa nó lật cả một vụ án ba nghìn mạng người, chém một đại thương gia, đuổi một Các lão về quê, cuối cùng mở tiệm cầm đồ lớn nhất kinh thành.

Thỉnh thoảng có kẻ chắp tay, cười cười hỏi ta:

"Bá gia, nghe nói năm xưa ngài bán sạch cả cái phủ cơ mà?"

Ta liền nhìn sang bên kia quầy.

Ở đó có một người đàn bà xắn tay áo, cầm cây nến, đang soi một cái bình cho ông khách béo — vẫn ông khách ấy, năm nào cũng vác tới một cái bình, năm nào cũng bị nàng nói đúng một chữ.

"Bán sạch." Ta đáp. "Bốn mươi mốt món."

"Mua được có một món."

"Ta lời."



Bình luận
Sắp xếp
    support Nhắn tin
    Loading...