Chàng Là Bại Gia Tử Cơ Mà

Chương 11: Hai lạng sáu


Chương trước Chương tiếp

Ngụy Thường Sinh vẫn ngồi im.

Ông vẫn chưa thua. Ta biết. Ông cũng biết.

Vì chứng minh có người mài dấu tiệm khỏi cái hộp thì chứng minh được gì? Chứng minh có kẻ muốn giấu. Kẻ ấy là ai, sổ nào ghi?

Sổ cháy rồi.

"Đại nhân." Ta nói. "Cháu xin đọc sổ."

Quan phủ doãn nhíu mày. "Cô lại—"

"Không phải tháng tám ạ." Ta nói. "Cháu xin đọc từ đầu."

Ta bắt đầu đọc.

Ta đọc từ trang thứ nhất, quyển thứ nhất, năm Nguyên Hựu thứ tư, ngày cụ nội ta treo biển.

*Một cái cày. Người cầm: Trương Đại. Ba trăm văn. Chuộc sau mười một ngày.*

*Một tấm áo bông. Người cầm: bà Lý ngõ Tây. Tám mươi văn. Không chuộc.*

Ta đọc.

Công đường im. Quan phủ doãn im. Người xem im.

Ta đọc ba mươi năm.

Ta đọc những cái vòng bạc, những tấm áo bông, những cái cày, những đôi khuyên tai, những con dao thợ mộc, những quyển sách của học trò nghèo. Ta đọc tên người, ngày tháng, số tiền, tha bao nhiêu văn lãi.

Ta đọc bằng cái giọng ta vẫn đọc mỗi tối, bên ngọn đèn, cho một người mù nghe.

Cha ta ngồi bên, đầu hơi cúi, và cứ mỗi dòng, ông lại gật một cái. Rất khẽ.

Hai người. Một quyển sổ đã thành tro.

Ta đọc đến năm Cảnh Hòa thứ mười.

*Ngày mồng bốn tháng ba. Thông Nguyên thương hội đem cầm một đôi chân đèn đồng. Nhận sáu mươi lạng.*

Ta đọc tiếp.

*Ngày mười tám tháng năm. Thông Nguyên thương hội chuộc lại đôi chân đèn. Trả sáu mươi lạng, thêm tiền lãi hai lạng bốn.*

Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro

Ta ngừng một nhịp.

"Hai lạng tư." Ta nói.

"Hai lạng sáu."

Cả công đường quay lại.

Ngụy Thường Sinh ngồi trên ghế, chuỗi hạt trong tay còn đang lắc lư.

Ông vừa mở miệng.

Ông cũng vừa nhận ra ông đã mở miệng.

Ta không quay sang ông.

Ta chỉ nói, rất khẽ, đủ cho cả công đường nghe:

"Bác nói đúng ạ. Hai lạng sáu."

"Cháu đọc lệch hai lạng."

Không ai nhúc nhích.

Quan phủ doãn từ từ đặt chén trà xuống.

"Ngụy đông gia." Ông nói. "Ông vừa sửa cho cô ta."

Ngụy Thường Sinh không đáp.

"Sổ Nhất Ngôn Đường ba đời." Ta nói. "Cháy hôm kia. Trên đời này người thuộc nó có hai: cha cháu, và cháu."

"Cháu chưa từng cho bác xem sổ. Cha cháu càng không. Bác đã ba lần đòi mua tiệm, ba lần cha cháu không bán — cái sổ ấy bác chưa từng được sờ vào."

Ta quay lại nhìn ông.

"Vậy bác thuộc nó lúc nào?"

Ngụy Thường Sinh ngồi rất thẳng.

Mặt ông không đổi. Chuỗi hạt trong tay ông dừng lại.

"Ba năm trước, có ba người vào tiệm nhà cháu giữa đêm. Họ không đập cửa. Họ có chìa."

"Đêm ấy họ ngồi trong tiệm rất lâu. Họ tìm một trang sổ. Muốn tìm một trang trong ba đời sổ, người ta phải đọc."

"Bác đọc suốt một đêm, đúng không ạ?"

Ta nghe giọng mình vỡ ra ở chữ cuối.

"Bác đọc quyển sổ nhà cháu suốt một đêm. Rồi sáng ra bác lấy mắt cha cháu."

Ngụy Thường Sinh nhìn ta.

Ông nhìn rất lâu.

Rồi ông làm một việc mà đến giờ ta vẫn còn mơ thấy.

Ông cười.

Không phải cười gằn. Không phải cười khinh.

Ông cười đúng cái kiểu ông vẫn cười khi ta mặc cả thắng ông một món hàng, hồi ta mười ba tuổi — cái cười của một ông già nhìn con bé nhà mình lớn.

"Hai lạng sáu." Ông nói. "Ta không chịu được sai số, A Trân ạ."

"Ta đã dạy con cái đó."

Ba ngày sau, ta vào nhà lao thăm ông.

Ta không định đi. Chân ta tự đi.

Ngụy Thường Sinh ngồi trong đó, vẫn áo đoạn nâu, vẫn tóc chải mượt. Người ta chưa dám bạc đãi ông — Thông Nguyên còn chưa bị tịch biên, mà chủ nợ của nửa kinh thành thì chẳng ai muốn đắc tội.

Thấy ta, ông ngẩng lên.

"A Trân."

Ta không đáp.

Ông gật gù, như thể ta có đáp hay không cũng nằm trong tính toán của ông cả.

Rồi ông nói:

"Tưởng Kính Chi."

Ta sững người.

"Bây giờ là Các lão. Ba năm trước là Thượng thư bộ Binh." Ông nói, thản nhiên như đọc một dòng sổ. "Bẩm văn của Bùi tướng quân gửi về, qua tay ông ta."

"Bác..." Giọng ta khô khốc. "Cháu có mặc cả với bác đâu."

"Ta biết." Ngụy Thường Sinh nhìn ta. "Ta ra giá. Con không mặc cả. Nhưng ta đã ra giá rồi."

"Ta làm nghề sáu mươi năm, A Trân. Ta chưa từng nhận tiền mà không giao hàng."

Ta đứng đó, tay bám vào chấn song, và ta chẳng biết mình đang cảm thấy cái gì nữa.

"Con giận ta." Ông nói. "Được thôi."

"Nhưng con nghe ta một câu cuối. Con lên đó, con nhìn cho kỹ."

"Rồi con về, con nói cho ta biết — giữa ta với ông ta, ai mới là đồ giả."

Phủ Các lão ở phố Thanh Vân, cổng không sơn son, không sư tử đá, chỉ có hai cây hòe già.

Tưởng Kính Chi tiếp chúng ta trong thư phòng.

Ông chừng bảy mươi, gầy, áo vải, tay cầm một quyển sách. Trên bàn có một chén trà đã nguội và một cái bánh chưa ăn hết.

Ông nhìn Bùi Yến rất lâu.

"Ta nhớ cậu." Ông nói. "Năm ngoái. Bữa cơm ở Thúy Vân Lâu."

"Vâng." Bùi Yến đáp.

"Cá ngon."

"Một nghìn hai trăm lạng." Bùi Yến nói. "Cái nghiên mực tiên đế ban cho ông nội tôi."

Tưởng Kính Chi đặt quyển sách xuống.

Ông không giật mình. Ông không chối. Ông chỉ ngồi im một lúc, rồi thở ra.

"Ngồi đi." Ông nói.

Đại lý tự mở kho hồ sơ bộ Binh mất bốn ngày.

Không ai giấu nó cả.

Đó là điều ta không bao giờ quên.

Không có mật thất. Không có ngăn kép. Không có ai đốt gì. Tờ bẩm văn của Định Bắc tướng quân Bùi Trọng Yêm nằm trong hộp hồ sơ số bốn mươi bảy, năm Cảnh Hòa hai mươi, xếp đúng thứ tự, buộc dây đúng kiểu, có triện vào sổ, có chữ ký người nhận, có ghi ngày giờ.

Ba năm nay nó nằm đó. Sạch sẽ. Ngay ngắn.

*"Thần Bùi Trọng Yêm kính bẩm: lô giáp mới nhận, thần đã tự tay cân, tự tay đo. Mỏng hơn quy chế hai phân. Sắt non. Thần đã ba lần xin đổi, ba lần không được trả lời. Thần xin lấy đầu mình bảo đảm: thứ này ra trận thì ba nghìn người của thần không giữ nổi ải."*

Ở góc trên bên phải, bằng bút son, có bốn chữ.

*Chờ sau hãy bàn.*

Vọng Sa thất thủ hai mươi mốt ngày sau đó.

Không có "sau".

Ta đứng trong kho hồ sơ, tay cầm tờ giấy, và ta nhìn sang tờ thứ hai trong cùng cái hộp — tờ phán quyết sau trận.

Cũng bằng bút son. Cũng bốn chữ.

*Khinh địch, thất thủ.*

Cùng một nét bút.

"Ta có đọc." Tưởng Kính Chi nói.

Chúng ta ngồi trong thư phòng ông. Trà ông rót cho chúng ta đã nguội.

"Ta đọc rất kỹ. Ta còn cho gọi người của bộ Công tới hỏi." Ông nói. "Ta biết Bùi Trọng Yêm không phải hạng nói bừa. Ông ấy nói giáp mỏng, thì giáp mỏng."

Bùi Yến ngồi bên cạnh ta.

Chàng không nhúc nhích. Ta không dám nhìn sang.

"Vậy vì sao ông phê bốn chữ ấy?" Ta hỏi.

Tưởng Kính Chi nhìn ta.

"Cô là con gái tiệm cầm đồ."

"Vâng."

"Vậy cô hiểu." Ông nói. "Ta ngồi ở cái ghế ấy, ta cầm tờ giấy ấy, và ta phải ra một cái giá."

"Ta mở vụ này ra, thì mở cái gì? Ba nghìn bộ giáp là một lô. Sau lô ấy còn tám mươi lô nữa, rải khắp chín trấn, suốt mười hai năm. Kéo một sợi thì cả tấm lưới lên. Bộ Binh, bộ Công, bộ Hộ, ba mươi bảy người, trong đó có hai người là thầy ta."

"Đang chiến sự. Bắc phương chưa yên. Mở vụ ra, quân tâm loạn, người ngoài biên ải không tin nổi cái áo giáp trên lưng mình nữa. Cô có biết một đạo quân không tin cái giáp của nó thì thua nhanh cỡ nào không?"

Ông nói cái đó rất bình thản.

"Ta tính. Mở ra: mất chín trấn, mất ba mươi bảy người, mất hai năm rối loạn, có thể mất cả biên ải."

"Đóng lại: mất một lão tướng, và ba nghìn người."

Ông nhấp một ngụm trà nguội.

"Ta không ăn một đồng nào, cô ạ. Không một đồng. Cô cứ đi tra. Nhà ta không có nổi một cái bình đáng trăm lạng."

"Ta chỉ tính. Và ta tính đúng."

Bùi Yến đứng dậy.

Ta tưởng chàng sẽ giết ông ta.

Chàng không.

Chàng chỉ đứng đó, nhìn ông già ngồi trong cái thư phòng trống trơn, uống trà nguội, ăn dở một cái bánh.

Rồi chàng ngồi xuống lại.

Ta hiểu.

Ba năm chàng đi tìm một con quỷ. Chàng bán cả cái nhà mình để mua một con quỷ.

Và ở cuối con đường là cái này.

"Cô." Tưởng Kính Chi quay sang ta. "Cô làm nghề định giá. Nói cho ta nghe. Ta tính sai chỗ nào?"

Ta ngồi đó rất lâu.

Trong đầu ta, cái bàn tính chạy.

"Ông tính đúng cả ạ." Cuối cùng ta nói.

Ông gật đầu.

"Ông chỉ quên đúng một khoản."

"Khoản gì?"

"Lãi ạ."

Tưởng Kính Chi ngẩng lên.

"Ông làm quan, ông không biết cũng phải." Ta nói. "Tiệm cầm đồ nhà cháu ba đời, cháu nói ông nghe cái quy củ đầu tiên: món nào cầm cũng có lãi. Ông cầm một thứ hôm nay, ông tính giá hôm nay. Nhưng ông không chuộc. Ông để đấy."

"Ba năm rồi, ông ạ."

Ta bẻ ngón tay tính cho ông nghe. Ta vẫn tính như thế từ năm mười tuổi. Ta không biết tính kiểu khác.

"Ngày ấy ông nợ ba nghìn người ở Vọng Sa, cộng một lão tướng."

"Ba năm sau, ông nợ thêm: một ông cai kho tên Hạ Nguyên, chết dưới giếng ở Bình Châu. Một cái xưởng bốn mươi miệng ăn, cháy ngày mười một tháng mười một. Một cái tiệm cầm đồ ba đời, cháy hôm kia. Một đôi mắt của một ông già không dính dáng gì. Một ông thợ già tự chặt ngón tay mình, ngồi vá nồi trong miếu đổ ba năm. Bốn mươi mốt món đồ trong một cái phủ, mỗi món là một cái tang."

"Và một người tên Ngụy Thường Sinh, người mà nếu ông phê hai chữ *tra xét* thay vì bốn chữ *chờ sau hãy bàn*, thì ba năm trước đã bị chém rồi, chứ không kịp lớn thành cái thứ ông ta bây giờ."

Ta ngẩng lên nhìn ông.

"Ông cầm một món đồ ba năm, không chuộc, không trả lãi. Bây giờ ông ra tiệm, ông định trả đúng cái giá hôm ấy à?"

"Ông trả không nổi nữa đâu, ông ạ."

Tưởng Kính Chi ngồi im.

Rất lâu.

Nắng chiều qua song cửa rọi xuống mặt bàn, lên chén trà nguội, lên cái bánh ăn dở.

Rồi ông làm một việc ta không ngờ.

Ông cúi đầu.

"Ta trả không nổi." Ông nói. "Cô nói đúng."

Ta tưởng ta sẽ thấy hả.

Ta không thấy gì cả.

Ông ngẩng lên. Mắt ông đục, giống mắt cha ta, chỉ khác là còn nhìn thấy.

"Nhưng cô nghe ta hỏi một câu." Ông nói. "Câu này ta hỏi thật, không phải để cãi."

"Năm ấy cô mười lăm tuổi. Giả sử người ta bế cô đặt vào cái ghế của ta. Đưa cô tờ giấy ấy. Cho cô một khắc để phê."

"Cô có chắc cô sẽ phê khác ta không?"

Ta mở miệng.

Rồi ta không nói được gì.

Vì hai tháng trước, ta chỉ vào một cái rổ hàng ế, ta bảo "đồ vụn cả", và ta bán bốn trăm lạng lấy một lạng.

Ta không gian. Ta không tham. Ta chỉ bận.

Ta chỉ không buồn cúi xuống soi.

Ta ngồi trong thư phòng Các lão Tưởng Kính Chi, và lần đầu tiên trong đời, ta hiểu ra một chuyện làm ta lạnh sống lưng hơn cả cái đêm nhìn thấy cây trâm giả:

Người ta không cần là quỷ mới giết được ba nghìn người.

Người ta chỉ cần bận.

Chúng ta đi bộ về.

Không phải vì Bá phủ không còn ngựa — lúc ấy Thông Nguyên đã tịch biên, quan phủ doãn đã cho người dắt tới cổng nhà ta hai con ngựa tốt, gọi là bồi thường.

Chỉ là chàng không lên ngựa. Nên ta cũng không.

Phố Thanh Vân dài, hai bên trồng hòe. Đi được nửa đường thì trời chuyển tối.

"Bùi Yến."

"Ừ."

"Chàng thấy bõ không?"

Chàng đi thêm chừng mười bước nữa.

"Bốn mươi mốt món." Chàng nói. "Cái nghiên mực của ông nội ta. Con ngựa cha ta cưỡi ra ải. Bức Thu Sơn Đồ mẹ ta thích nhất — bà ngồi trước nó cả buổi chiều, ta còn nhớ."

"Ba năm."

Chàng ngừng.

"Đổi được một dòng chữ trong một cái hộp hồ sơ."

Chàng không nói câu nào nữa.

Ta cũng không hỏi nữa.

Trong nghề của ta, có những món khách đem tới quầy mà mình biết ngay là mình không ra giá được. Không phải vì nó quá đắt. Vì nó không nằm trên cái thang mình có.

Gặp món ấy, cha ta dạy: đừng ra giá. Cứ đứng đấy với người ta.

Ta đi sát vào một bước, và ta nắm lấy tay chàng.

Bàn tay ấy còn quấn vải. Chai ở đốt thứ hai ngón trỏ, ngón giữa. Vết của người cầm bút.

Chàng không quay sang.

Nhưng chàng siết lại.

Chúng ta đi hết phố Thanh Vân như thế, hai đứa tay quấn vải, không nói gì, dưới hai hàng hòe đang rụng.



Bình luận
Sắp xếp
    support Nhắn tin
    Loading...