Chàng Là Bại Gia Tử Cơ Mà

Chương 10: Sổ mà không có bìa


Chương trước Chương tiếp

Phủ doãn kinh thành thụ lý một vụ cháy tiệm.

Chỉ có thế thôi. Một cái tiệm cầm đồ ba đời cháy rụi, chủ tiệm mù, con gái chủ tiệm tố Thông Nguyên thương hội phóng hỏa.

Còn ba nghìn người ở Vọng Sa thì chưa ai nhắc tới.

Muốn nhắc tới, phải qua cái cửa này trước.

Ngụy Thường Sinh tới công đường bằng kiệu bốn người khiêng, mặc áo đoạn nâu, tay cầm một chuỗi hạt.

Ông không mang theo luật sư. Ông không mang theo ai.

Ông chỉ chắp tay với quan phủ doãn, rất nhã, rồi quay sang ta, và ông làm một việc khiến cả công đường ồ lên:

Ông cúi đầu chào ta.

Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro

"A Trân." Ông nói, giọng nghẹn lại. "Cháy nhà thì đau. Bác hiểu. Con muốn tố ai cũng được. Cứ tố."

Ta biết ngay ta đã thua nửa keo.

Đàm lão khai trước.

Ông kể ba nghìn bộ giáp. Ông kể xưởng Đàm gia. Ông giơ bàn tay cụt ngón cái lên cho cả công đường xem.

Rồi quan hỏi: "Ai đặt hàng?"

"Ta không biết."

Ngụy Thường Sinh chắp tay: "Bẩm đại nhân. Một lão thợ vá nồi ở miếu Thổ Địa ngoại thành, thảo dân chưa gặp bao giờ. Lão bảo có người đặt giáp. Được. Nhưng người ấy có phải thảo dân không? Lão nói đi."

Đàm lão im.

Ông không nói được. Ông không biết.

Ta khai tiếp.

Ta đọc dòng sổ tháng tám. Ngày mười chín, giờ Tuất, trời mưa, một mảnh sắt, người cầm họ Đàm, hai lạng, dấu kim một nét ngang ba chấm.

Quan phủ doãn hỏi: "Sổ đâu?"

"Sổ cháy rồi ạ."

"Vậy cô lấy đâu ra?"

"Trong đầu cháu ạ."

Cả công đường cười.

Ngụy Thường Sinh không cười.

Ông chỉ thở dài, rất khẽ, cái tiếng thở dài của một ông già thương cháu.

"Bẩm đại nhân." Ông nói. "Con bé này thảo dân bế từ năm nó lên mười. Cha nó vỡ nợ, thảo dân đặt bạc lên quầy nhà nó, không lấy một đồng lãi. Tám năm nay nó gọi thảo dân là bác."

"Ba tháng trước nó gả vào Vĩnh Xương Bá phủ. Cả kinh thành biết Bá phủ ấy còn cái gì. Bây giờ nó đứng đây, đọc thuộc lòng một quyển sổ đã thành tro, để tố cái người đã cứu nhà nó."

Ông quay sang ta. Mắt ông đỏ hoe.

"A Trân. Người ta xui con cái gì?"

Ta thấy cả công đường nghiêng đi.

Nghiêng về phía ông.

Không phải vì ông giỏi cãi. Vì trong ba mươi năm, ông đã bỏ tiền dựng lại nửa cái phố này, và ai cũng nhớ.

Đó là thứ ông đã mua. Ông mua từ lâu rồi. Ông trả sòng phẳng.

"Đại nhân." Ta nói. "Cháu xin trình một vật."

Người ta khiêng vào một cái hộp gỗ tử đàn.

Quan phủ doãn cho người lấy nó từ thư phòng Ngụy Thường Sinh, theo đơn xin của ta. Ông không cản. Ông chẳng cản cái gì cả.

"Cái hộp này," ta nói, "tháng bảy năm Cảnh Hòa hai mươi, có người đem tới Nhất Ngôn Đường cầm năm lạng, kỳ hạn hai năm. Cha cháu nhận. Tiểu nhị khắc dấu tiệm vào mép đáy. Hai tháng trước cháu bán nó cho Thông Nguyên trong một lô hàng quá hạn."

"Vậy thì nó là của ta." Ngụy Thường Sinh nói. "Con bán, ta mua. Có gì sai?"

"Không sai ạ."

Ta lật cái hộp lên, để mép đáy hướng ra ngoài.

"Chỉ có một chuyện. Dấu tiệm nhà cháu bị mài đi rồi."

Cả công đường nhoài tới nhìn.

Gỗ tử đàn đen như mực. Dưới ánh nến, mép đáy nhẵn thín, chẳng ai thấy gì cả.

"Có mài đâu?" Có người kêu lên.

"Đâu, có gì đâu?"

Ngụy Thường Sinh không nói. Ông chỉ nhìn ta.

Và trong một khắc rất ngắn, ta thấy ông hơi nhíu mày — không phải vì sợ.

Vì bực.

Ông đã bảo thằng thợ mài kỹ. Ông đã tự soi. Ông không thấy gì.

Ông ghét cái cảm giác có một sai số nằm đâu đó mà ông không tìm ra.

"Đại nhân." Ta nói. "Cháu xin gọi cha cháu."

Người ta dắt cha ta vào.

Ông đi chậm, tay đặt lên vai lão bộc, áo vải, tóc bạc, mắt đục.

Cả công đường im bặt.

"Tô Bình." Quan phủ doãn nói. "Ông mù?"

"Bẩm, ba năm rồi ạ."

"Vậy ông làm chứng cái gì?"

Cha ta không đáp.

Ông chỉ chìa hai bàn tay ra.

Người ta đặt cái hộp vào tay ông.

Ta đứng nhìn.

Đôi bàn tay ấy, cả đời ta nhìn nó lần qua mấy vạn món đồ. Móng cắt ngắn sát. Đầu ngón chai một lớp mỏng.

Ngón trỏ ông chạm vào nắp trước. Rồi vân gỗ. Rồi cạnh. Rồi bản lề.

Chậm. Đều.

"Bản lề bên trái cứng." Ông nói. "Ngày ấy đã cứng rồi. Ta có nhỏ vào một giọt dầu, khách bảo thôi đừng, cứ để thế."

Ta thấy Ngụy Thường Sinh ngồi thẳng người lên.

Tay cha ta lật cái hộp, rà xuống mép đáy.

Rồi dừng.

Ông rà đi rà lại chỗ ấy ba lần.

"Chỗ này," ông nói, "bị mài."

Cả công đường ồ lên.

"Ông nói bậy!" Có kẻ kêu. "Nhẵn thín, ai thấy gì đâu!"

Cha ta ngẩng đầu lên.

Đôi mắt đục ấy chẳng nhìn ai cả.

"Thưa các vị." Ông nói. "Gỗ này người ta bào bằng tay. Bào tay thì thớ gỗ chạy một chiều, sờ xuôi thì trơn, sờ ngược thì gợn. Chỗ này sờ xuôi cũng trơn, sờ ngược cũng trơn."

"Chỗ này không phải do bào. Chỗ này do mài. Mài bằng đá mịn, mài lâu, mài kỹ, mài đến mức mắt không còn thấy được nữa."

Ông đưa cái hộp trả lại, rất tử tế, hai tay.

"Người ta làm giả để lừa mắt." Ông nói. "Không ai làm giả để lừa tay."

Công đường lặng ngắt.

Quan phủ doãn cho người đem tới mười cái hộp tử đàn, mua vội ngoài chợ, giống nhau như đúc, trộn cái của Ngụy vào giữa.

Cha ta sờ hết mười cái.

Ông sờ hết đúng một khắc.

Rồi ông đẩy chín cái sang một bên, và giơ cái thứ mười lên.



Bình luận
Sắp xếp
    support Nhắn tin
    Loading...