Ta không hỏi cha thêm câu nào nữa.
Trong nghề của ta có một quy củ: khi khách nói dối, đừng vạch ra. Vạch ra thì hắn ôm đồ đi mất. Cứ để hắn nói, rồi đếm xem hắn nói lệch chỗ nào.
Chỉ là lần này, người nói dối là cha ta.
Và ta ngồi trong kiệu suốt đường về Bá phủ, tay vẫn nắm quyển sổ, mà chẳng đếm ra được cái gì.
Ba hôm sau, nghĩa bá tới.
Ngụy Thường Sinh, chủ Thông Nguyên thương hội, đi qua cái cổng tróc sơn của Vĩnh Xương Bá phủ mà chẳng cần ai báo, cứ như ông đi qua sân nhà mình.
Ông sáu mươi, người thấp đậm, tóc hoa râm chải rất mượt, khoác áo đoạn màu nâu — thứ vải mà người không biết thì tưởng rẻ, người biết thì hiểu một tấm ấy bằng cả gian nhà.
Vừa thấy ta, ông đã cười, cười đến mức mắt híp lại thành hai nếp.
"A Trân!"
Ông giơ tay lên, làm bộ như định véo má ta rồi lại thôi — cái động tác ấy ông làm từ năm ta lên mười.
"Con bé này. Lấy chồng mà không báo bác một tiếng. Bác nghe tin ngoài chợ đấy, biết không?"
"Con định báo mà—"
"Định." Ông hừ một tiếng. "Cha con cũng nói y hệt. Hai cha con nhà con, cái gì cũng định."
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro
Rồi ông vẫy tay. Bốn người khiêng lễ vào sân, đặt xuống. Ông chẳng buồn liếc một cái, chỉ hất cằm bảo Phúc bá dọn.
"Lụa hai tấm, sâm một hộp, với hai nghìn lạng." Ông nói, thản nhiên như đang kể mấy thứ mua ở hàng rau. "Không phải cho Bá phủ đâu. Cho con. Con gái đi lấy chồng mà tay không thì người ta khinh."
Ta nghẹn.
Ta muốn nói không cần. Ta muốn nói con lớn rồi.
Nhưng năm ta mười tuổi, Nhất Ngôn Đường vỡ một chuyến hàng, nợ đến mức cha ta đã đem cái biển hiệu xuống lau lần cuối. Đêm ấy có người gõ cửa. Người ấy không hỏi han, không thương hại, chỉ đặt lên quầy một túi bạc và nói một câu:
*"Cụ nhà anh treo cái biển này bằng tay. Anh gỡ nó bằng tay, anh có gỡ nổi không?"*
Rồi ông ta đi.
Sáng hôm sau ông ta quay lại, dắt ta ra đầu phố, mua cho ta một gói kẹo mạch nha ba đồng.
Người ta nợ tiền thì trả được.
Ta nợ ông cái biển hiệu.
Sau lưng ông, một người chưởng quầy của Thông Nguyên đang cúi ghi sổ lễ.
Ngụy Thường Sinh không quay lại. "Ghi bao nhiêu?"
"Dạ, hai nghìn lẻ hai lạng ạ."
"Hai nghìn."
Tay người kia khựng trên mặt giấy. "Dạ... hộp sâm con tính là hai lạng, theo giá chợ—"
"Ta bảo hai nghìn là hai nghìn. Hộp sâm là quà. Quà không vào sổ lễ."
Ông vẫn nhìn ta, vẫn cười, không buồn quay đầu lại lấy một lần.
"Về bảo Trần chưởng quỹ gạch tên anh khỏi sổ lương tháng này. Tháng sau anh vẫn cứ tới làm."
Người kia trắng bệch, quỳ thụp xuống nền gạch. "Đông gia—"
"Đứng lên. Bẩn sân nhà người ta."
"Bác." Ta khẽ kéo tay áo ông. "Có hai lạng thôi mà."
Ngụy Thường Sinh quay sang ta.
Mặt ông vẫn hiền. Vẫn hai nếp nhăn ở đuôi mắt, vẫn cái cười ấy.
"A Trân. Con thương người là tốt." Ông vỗ vỗ mu bàn tay ta. "Nhưng con mở tiệm cầm đồ, con phải hiểu. Một người hôm nay ghi lệch hai lạng, ngày mai hắn ghi lệch hai nghìn. Không phải vì hắn tham đâu. Vì hắn quen tay."
Ta không thích cái cảnh vừa rồi.
Nhưng ta tự bảo mình: bác vốn thế. Làm ăn lớn thì phải thế.
Cả đời ta chưa từng đọc sai một cây trâm.
"Bá gia đâu?" Ngụy Thường Sinh hỏi.
"Ở trong." Ta đáp. "Chắc đang ngủ ạ."
"Ngủ." Ông cười khà khà, tự kéo ghế ngồi xuống giữa sân. "Con bé ngốc. Bác nói thật cho con nghe nhé — bác không phản đối con gả vào đây. Bác chỉ tiếc."
"Tiếc gì cơ ạ?"
"Tiếc là con tính đúng mà tính hụt một khoản." Ông gõ gõ ngón tay lên tay ghế. "Con nghĩ tước vị giữ được cái tiệm. Ừ, giữ được. Nhưng tước vị này còn được mấy năm? Nhà họ Bùi đến cái nghiên mực ngự ban còn bán, con định treo biển của con dưới cái gì?"
Ta không đáp được.
Vì ông đúng.
"Thế này đi." Ông nói, giọng dịu hẳn xuống. "Bác không đòi mua tiệm của con nữa. Bác nói ba lần rồi, con không bán, thôi thì bác thua. Nhưng con để bác đứng tên hộ cái sổ vốn — biển hiệu vẫn treo tên Tô gia, người trong tiệm vẫn là người của con, bác không lấy một đồng lời. Chỉ cần chữ Thông Nguyên ở dưới, thì trên phố này không ai dám bước vào tiệm con mà không cởi giày."
Ông nhìn ta, mắt vẫn cười.
"Con giữ được biển của cụ con. Bác giữ được con. Sòng phẳng, phải không?"
Sòng phẳng.
Ta ngồi đó, và trong lòng ta ấm lên một cái, ấm đến mức sống mũi cay.
Cả kinh thành này ai cũng bảo ta hớ. Chỉ có một người ngồi xuống, tính lại giúp ta, và tính đúng.
"Con nghĩ đã ạ." Ta nói.
"Ừ. Nghĩ đi. Không vội." Ông đứng dậy, phủi vạt áo. "À, dạo này tiệm có món gì hay không? Lâu rồi bác không được xem đồ đẹp."
"Không ạ. Toàn đồ vụn."
"Tiếc nhỉ."
Ông ra tới cổng thì dừng lại, quay đầu nhìn vào trong phủ một cái — nhìn cái sân trống, nhìn bức tường có mười bốn cái đinh.
"Bá gia nhà con," ông nói, "nếu còn món nào muốn bán, cứ bảo hắn tìm bác. Bác trả giá cao hơn ngoài chợ."
Rồi ông nhét vào tay ta một cái gói giấy dầu.
Kẹo mạch nha.
"Con bé này thích ăn kẹo này từ bé." Ông cười, vỗ vỗ tay ta hai cái. "Ăn đi. Đừng để dành. Để dành là nó chảy."
Tối ấy, Bùi Yến hỏi ta một câu.
"Nàng tin ông ta đến mức nào?"
Ta đang ngồi lau quầy — không, ta đang ngồi lau cái bàn trong tân phòng, theo thói quen tay chân. Ta dừng lại.
"Chàng hỏi thế là có ý gì?"
"Không có ý gì. Ta hỏi."
"Ông ấy cứu tiệm nhà ta năm ta mười tuổi." Ta đặt khăn xuống. "Lúc ấy cả phố Vĩnh Hòa quay lưng. Chủ nợ ngồi trong tiệm ta ăn cơm của ta. Ông ấy đến, đặt bạc lên quầy, không hỏi lấy một câu là bao giờ trả."
"Ông ấy không lấy lãi?"
"Không."
"Người buôn mà không lấy lãi." Chàng nói, rất nhẹ. "Vậy ông ta lấy gì?"
Ta đứng bật dậy.
"Bùi Yến." Giọng ta lạnh tanh. "Ta biết chàng nghi cả thiên hạ. Ta hiểu. Cha chàng chết, ta hiểu. Nhưng chàng đừng có đem cái đầu ba năm chỉ nghĩ đến chuyện người ta hại mình mà rọi vào một ông già đã cứu nhà ta."
"Ta chỉ hỏi—"
"Chàng cần một con mắt." Ta cắt lời. "Con mắt của ta bán cho chàng rồi, chàng cứ dùng. Nhưng lòng ta thì không nằm trong tráp sính lễ."
Chàng im.
Rồi chàng gật đầu.
"Ta nói sai." Chàng nói. "Xin lỗi nàng."
Chàng đi ra, khép cửa lại rất khẽ.
Ta đứng giữa phòng, tim còn đập thình thịch, tự nhiên thấy trong người trống trống một khoảng.
Cãi thắng một người không cãi lại thì chẳng sướng gì cả.
Sáng hôm sau, trên bàn có một gói giấy dầu.
Kẹo mạch nha.
Ta cầm lên, ngẩn ra.
Gói của nghĩa bá ta vẫn để nguyên trong ngăn kéo, chưa mở.
Cái này là gói khác. Giấy thô hơn, buộc bằng dây rơm, gói vụng, một góc còn dính kẹo chảy ra.
Phúc bá đi qua, thấy ta cầm gói kẹo, mắt lão đỏ hoe.
"Phu nhân dùng đi ạ." Lão sụt sịt. "Bá gia đi từ lúc chưa sáng."
"Đi đâu?"
"Chợ Đông."
Ta nhíu mày. "Chợ Đông cách đây ba dặm. Đầu phố mình cũng có hàng kẹo."
"Dạ." Phúc bá lấy tay áo quệt mắt. "Đầu phố năm đồng. Chợ Đông ba đồng."
Ta đứng đó, tay cầm gói kẹo, nghe rõ tiếng bàn tính trong đầu mình kêu lên một tiếng rồi tắt ngóm.
Ba đồng.
Một Bá gia, đi bộ ba dặm, đi từ lúc trời chưa sáng, để tiết kiệm hai đồng tiền.
Ta ngồi xuống, mở gói giấy ra.
Kẹo gói vụng thật. Vụng đến mức buồn cười.
Cả đời ta ra giá cho mấy vạn món đồ. Ta ra giá cho ngọc, cho vàng, cho tranh của người chết, cho vòng cưới của người ta đem đi cầm lúc nửa đêm.
Ta chưa từng ra giá hụt một lần nào.
Ta cầm gói kẹo ba đồng ấy, ngồi rất lâu, và ta không ra nổi giá.
Đêm ấy ta không ngủ.
Ta thắp nến, lấy cây trâm phượng ra, đặt lên bàn. Rồi ta lấy phiến giáp ra, đặt cạnh.
Một cây trâm vàng của khuê phòng. Một mảnh sắt của chiến trường.
Chẳng liên quan gì đến nhau.
Nhưng cả đêm ta cứ thấy vướng, vướng như răng cắn phải hạt sạn trong bát cơm.
Ta soi cây trâm trước.
Chỗ khảm đá, người thợ phải đục một cái ngạnh nhỏ để giữ viên đá không rơi. Ngạnh này là chỗ khuất, không ai nhìn, cho nên mỗi thợ đục một kiểu — có người đục thẳng, có người đục xiên, có người đục hai ngạnh cho chắc.
Người làm cây trâm này đục ngạnh hình móc câu. Móc rất nông. Đục xong còn miết lại một nhát cho phẳng, vì tật của hắn là không chịu được cái gì lởm chởm.
Ta đặt trâm xuống, cầm phiến giáp lên, soi chỗ đinh tán.
Đinh tán giáp thì thô, ai làm chẳng được, đập bẹp cái đầu là xong.
Ta ghé sát nến.
Chỗ chân đinh, có một cái ngạnh nhỏ.
Hình móc câu. Nông. Miết lại một nhát cho phẳng.
Ngọn nến trong tay ta run lên.
Người ta có thể học nghề của nhau. Người ta có thể chép kiểu của nhau.
Nhưng cái tật thì không ai chép được. Cái tật là thứ người thợ mang theo xuống mồ.
Người khảm cây trâm gia truyền của mẹ Bùi Yến — và người tán đinh lên ba nghìn bộ giáp giết cha chàng — là một.
Ta ôm cả trâm lẫn giáp, chạy ra ngoài, đạp cửa thư phòng.
Bùi Yến còn thức, đang cúi trên một tờ giấy. Chàng ngẩng lên.
"Cây trâm này." Ta th* d*c, dằn nó xuống bàn. "Chàng thuê ai làm? Xưởng nào? Người nào? Nói mau."
Bùi Yến nhìn cây trâm.
Rồi chàng nhìn ta.
Và lần đầu tiên, ta thấy trên gương mặt lúc nào cũng bình thản ấy hiện lên một thứ khiến bụng ta lạnh toát.
"Tô Trân." Chàng nói chậm rãi. "Bốn mươi mốt món trong phủ này đều là ta bỏ tiền làm."
"Nhưng cây trâm của mẹ ta, ta chưa bao giờ bán."