Ta ngủ được đúng một canh giờ.
Đến canh tư thì ta dậy, châm nến, ra gõ cửa thư phòng.
Bùi Yến mở cửa ngay. Chàng cũng chưa ngủ. Ba năm nay chắc chàng chưa ngủ đêm nào cho tử tế.
"Ta muốn xem hết bốn mươi mốt món." Ta nói.
"Bây giờ?"
"Bây giờ." Ta giơ cây nến lên. "Chàng bảo bốn mươi mốt món đều là chàng làm. Nhưng cây trâm chàng chưa từng bán. Vậy trong bốn mươi mốt món ấy, có bao nhiêu món không phải của chàng?"
Chàng đứng im một thoáng.
Rồi chàng với lấy áo ngoài.
"Đi."
Chúng ta bắt đầu từ chính đường.
Ta đi trước, cầm nến. Chàng đi sau, hai tay chắp, không nói.
Cái lư đồng trên án. Ta cầm lên, xoay một vòng, gõ móng tay. "Giả. Gỉ xanh này là dấm với muối, ngâm chừng nửa năm."
"Ừ." Chàng nói. "Cái thật ta bán tháng ba năm ngoái. Được hai trăm sáu mươi lạng."
"Đổi lấy gì?"
Chàng im một lúc.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro
"Một cái tên." Chàng đáp. "Tên viên chủ sự coi kho quân giới năm ấy. Người ta bảo ta hai trăm sáu mươi lạng thì cho ta cái tên. Ta trả. Ta đi tìm. Ông ta chết năm kia rồi, chết già, trên giường, có con cháu đứng đủ."
Ta ngẩng lên nhìn chàng.
"Chàng mất hai trăm sáu mươi lạng để biết một người đã chết."
"Ừ."
Chàng nói cái đó bình thản như đang đọc sổ.
Ta không nói gì nữa. Ta đi sang cái bình bên cạnh.
Cả đêm ấy chúng ta đi hết cái phủ.
Món thứ chín, một bức tranh Thu Sơn Đồ treo ở tây sảnh. Ta soi mực, soi giấy, soi con dấu. "Giả. Nhưng giả khá."
"Cái thật đổi lấy một xấp giấy." Chàng nói.
"Giấy gì?"
"Sổ chi quân nhu. Bốn tờ. Có triện."
Ta quay phắt lại. "Bốn tờ sổ chi có triện? Cái đó mà thật thì—"
"Nó giả." Chàng nói.
Ta đứng sững.
"Ta không biết." Giọng chàng vẫn đều, nhưng ta thấy tay chàng nắm lại sau lưng. "Ta cầm bốn tờ giấy ấy, ta đọc, ta thấy một cái tên: Hạ Nguyên, cai kho ở Bình Châu. Ta mừng đến mức ba đêm không ngủ. Ta đi Bình Châu tìm ông ta."
"Rồi sao?"
"Ông ta là người tốt. Ông ta chẳng dính dáng gì. Ông ta còn mời ta ăn cơm, còn hỏi thăm cha ta."
Chàng ngừng.
"Ba ngày sau khi ta rời Bình Châu, ông Hạ chết. Ngã xuống giếng."
Ngọn nến trong tay ta lung lay.
"Bốn tờ giấy giả ấy không phải để lừa ta." Chàng nói. "Nó là để ta đi tìm. Ta đi tới đâu, người ta biết ta đang tra tới đó. Ta đi tới nhà ai, người ấy chết."
"Ta là con chó săn, mà mũi ta hỏng. Người ta chỉ đâu ta sủa đó. Sủa xong thì có người chết."
Chàng nhìn bức tranh giả trên tường.
"Cái thật ta bán được tám trăm lạng. Nàng nói xem, tám trăm lạng ấy ta mua được cái gì?"
Ta đứng đó, tay cầm nến, không đáp nổi.
Bởi vì ta biết đáp án.
Chàng mua một tờ giấy giả. Và một mạng người thật.
Món thứ hai mươi hai là cái nghiên mực.
Không, cái nghiên mực đã không còn. Chỗ nó từng nằm giờ là một cái nghiên khác, đá cũng đen, chạm cũng đẹp, đáy cũng khắc chữ.
Ta soi nó rất lâu.
"Chỗ mài mực." Cuối cùng ta nói. "Một cái nghiên ngự ban, ba đời nhà chàng mài trên đó, lòng nghiên phải trũng xuống. Trũng lệch về bên phải, vì người ta mài bằng tay phải. Cái này lòng phẳng lì."
"Ừ."
"Chàng bán nó lúc nào?"
"Tháng bảy năm ngoái."
"Đổi lấy gì?"
Bùi Yến không đáp.
Ta quay sang, giơ nến lên.
"Bùi Yến. Đổi lấy gì?"
"Một chỗ ngồi." Chàng nói khẽ. "Ta trả một nghìn hai trăm lạng để được ngồi ăn cơm với một vị đại nhân trong triều, đúng một bữa. Nửa canh giờ."
"Ông ta nói gì?"
"Ông ta khen món cá."
Ta bật cười.
Rồi ta không cười nữa.
Bởi vì ta nhìn thấy mặt chàng.
"Vị đại nhân nào?"
"Tưởng Kính Chi." Chàng nói. "Bây giờ là Các lão. Ba năm trước là Thượng thư bộ Binh. Bẩm văn của cha ta gửi về từ Vọng Sa, qua tay ông ta."
Ta suýt đánh rơi cây nến.
"Vậy chàng còn ngồi đây làm gì? Ông ta—"
"Ta tra ông ta nửa năm." Bùi Yến nói. "Ta cho người đếm từng món đồ trong nhà ông ta. Cả cái phủ ấy không có nổi một thứ đáng trăm lạng. Ông ta ăn cơm rau. Áo vải. Con trai ông ta làm chủ bạ một huyện nghèo, đi bộ đi làm, năm ngoái xin điều về kinh, ông ta bác."
"Bốn vạn hai nghìn lạng ăn chênh từ lô giáp năm ấy. Không một đồng nào chảy vào nhà ông ta."
Chàng nhún vai.
"Ta đếm ba lần. Rồi ta gạch tên ông ta."
Ta ngồi im.
Trong nghề của ta có một câu, cha ta dạy từ hồi ta lên mười: khách tham thì dễ, khách không tham mới khó.
Khách tham, mình biết hắn muốn gì thì mình ra giá được.
Khách không tham thì mình mù.
Ta cứ tưởng câu ấy chỉ nói về người mua hàng.
Ta cứ tưởng cả đêm nay ta đang kiểm hàng.
Đến giữa đêm ta mới hiểu ra ta đang làm cái gì.
Bốn mươi mốt món giả này không phải màn khói.
Nó là bốn mươi mốt tấm bia.
Mỗi một món giả đứng đúng chỗ một món thật đã đi khỏi cái nhà này. Và mỗi món thật đi khỏi thì đổi về một mẩu — một cái tên đã chết, một bữa cơm, một câu khen món cá, một tờ giấy giả, một xác người dưới giếng.
Chàng bán cả nhà mình đi để mua sự thật.
Và người ta bán lại cho chàng toàn hàng giả.
Chàng nhìn không ra. Cho nên chàng cứ trả. Trả suốt ba năm.
Ta là dân buôn. Ta lớn lên trong tiệm cầm đồ, ta xem người ta bán đồ của mẹ mình, của con mình, nhiều đến chai sạn.
Nhưng cả đời ta chưa từng thấy ai bị hớ như chàng.
Chỗ nào ta soi ra là giả, chàng đều nói được ngay: cái thật bán tháng nào, được bao nhiêu, đổi lấy gì.
Không cần nghĩ. Không cần tra sổ.
Ba mươi tám món, chàng đọc như đọc kinh.
Chàng không nhìn ra một món đồ giả nào. Nhưng chàng nhớ từng món đồ thật đã rời khỏi cái nhà này, nhớ đến từng ngày, từng con số.
Đến gần sáng, ta chợt hiểu ra.
Đó không phải trí nhớ.
Đó là chàng đang để tang.
Ba món cuối nằm trong một cái viện ở góc tây bắc.
Bùi Yến dừng lại ở ngoài cửa.
"Đây là viện của mẹ ta." Chàng nói. "Bà mất năm ta lên chín."
Chàng đưa cho ta chùm chìa khóa.
"Ta không vào."
"Chàng khóa nó bao lâu rồi?"
"Ba năm."
Ta cầm chìa khóa, đẩy cửa.
Bụi phủ một lớp mỏng, dày đều. Trên bàn trang điểm có một cái hộp gỗ. Trên giá có một cái vòng ngọc. Cây trâm phượng vốn nằm trong hộp — mãi đến ngày cưới mới bị lôi ra, cắm lên đầu ta.
Ta soi cái vòng ngọc trước.
Rồi cái hộp.
Rồi ta ngồi phịch xuống cái ghế đẩu phủ bụi, tay còn cầm nến, tim đập chậm mà nặng.
Cả ba đều giả.
Ta ra ngoài. Bùi Yến vẫn đứng ở bậc thềm, quay lưng vào cửa.
"Ba món." Ta nói. "Trâm, vòng, hộp. Đều giả."
"Ta chưa bao giờ bán đồ của mẹ ta." Chàng nói. "Một món cũng chưa."
"Ta biết."
Ta ngồi xuống bậc thềm. Cách chàng một khoảng.
Ta không hỏi. Ta cũng không an ủi.
Hồi ở tiệm, chàng ngồi cạnh ta như thế, để ta yên. Ta cứ tưởng chàng không biết nói gì.
Giờ ta mới hiểu, để yên cũng là một thứ phải học.
Trời bắt đầu hửng. Bụi trong viện bay lên trong vệt sáng đầu tiên, chầm chậm, như tuyết rơi ngược.
"Bùi Yến."
"Ừ."
"Người vào đây tráo ba món này," ta nói, "không phải để lấy tiền. Cái vòng ngọc kia bán được ba trăm lạng, nhưng làm giả nó tốn của hắn ít nhất một trăm. Hắn lời hai trăm. Hắn vào được cái phủ này, vào được cái viện khóa ba năm, mà hắn chỉ lấy hai trăm lạng thôi à?"
Chàng quay lại nhìn ta.
"Hắn không lấy đồ." Ta nói. "Hắn tìm cái gì đó. Tìm trong ba món ấy. Tìm xong, hắn trả lại một bản giả cho chàng đừng biết là có người đã tới."
Ta ngẩng lên nhìn cái viện phủ bụi.
Bụi dày đều. Đều quá.
"Chàng khóa cửa ba năm." Ta nói. "Nhưng có người đã vào đây trước ta."
"Và hắn còn rắc lại bụi cho tử tế."