Chàng Là Bại Gia Tử Cơ Mà

Chương 6: Người vá nồi


Chương trước Chương tiếp

Muốn tìm một người làm hàng giả, đừng đi tìm hắn.

Hắn giấu. Hắn đổi tên. Hắn dọn nhà ba tháng một lần.

Cứ đi tìm người bán hàng cho hắn.

Người bán hàng thì không giấu. Người bán hàng phải mở cửa tiệm, phải treo biển, phải mong khách tới.

"Hồng bảo thạch giả trên cây trâm ấy là thủy tinh nung." Ta nói với Bùi Yến, vừa nói vừa xỏ giày. "Nung ra được cái màu đỏ ấy, không đục, không sạn, đều từ trong ra ngoài — cả kinh thành không quá bốn cái lò làm nổi."

"Nàng biết cả bốn?"

"Ta biết cả bốn. Ta còn biết lò nào ăn gian pha chì." Ta hất cằm. "Chàng đi cùng. Nhưng chàng câm."

Lò thứ nhất, ta hỏi mua "một mẻ đá đỏ, cỡ hạt gạo, làm mắt tượng", chê đắt, mặc cả, bỏ đi.

Lò thứ hai, ta chê màu, mắng chủ lò pha chì, bị đuổi.

Đọc thêm nhiều Truyện Full tại trang web: https://etruyen.pro

Lò thứ ba, ta ngồi uống hai chén trà, kể chuyện cha ta, than tiệm ế, rồi thở dài bảo: "Cháu tìm cái màu như hồi xưa cơ. Hồi xưa có ông nào làm cho xưởng Đàm gia ấy, màu đỏ đẹp lắm..."

Lão chủ lò đang rót trà, tay khựng lại.

"Đàm gia à." Lão đặt ấm xuống. "Cháy rồi. Ba năm rồi."

"Cháy ạ?"

"Cháy sạch. Tháng mười một năm Cảnh Hòa hai mươi." Lão chép miệng. "Đêm cháy, gió to. Chẳng ai chữa được."

Ta cầm chén trà lên, hớp một ngụm.

Tháng mười một năm Cảnh Hòa thứ hai mươi.

Cùng cái tháng cha ta hỏng mắt.

Ta đặt chén xuống, cười tươi rói, khen trà ngon, hỏi thăm mấy câu vô thưởng vô phạt, rồi kéo Bùi Yến ra khỏi cửa.

Đi được ba bước, ta mới nhận ra tay mình lạnh ngắt.

Xưởng Đàm gia ở ngoại thành, cách cửa Nam bảy dặm.

Chỗ ấy giờ là một bãi đất đen, cỏ mọc lút, mấy bức tường gạch còn đứng dở dang như răng gãy. Cách đó chừng nửa dặm có một cái miếu Thổ Địa đổ nát, mái sập một nửa.

Chúng ta còn cách cái miếu hơn trăm bước thì nghe thấy tiếng.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Ta quay sang.

Bùi Yến đứng lại giữa đường.

Chàng không nhúc nhích. Mặt chàng chẳng đổi. Nhưng cả người chàng đứng đó, cứng đơ, hai tay buông thõng, như một người vừa bị ai gọi đúng tên trong bóng tối.

Ta bước lại gần, đưa tay ra, nắm lấy cổ tay chàng.

Ta không nói gì.

Ta chỉ nắm.

Một lúc lâu, ta thấy chàng thở ra một hơi.

Rồi chàng đi tiếp.

Trong miếu có một ông lão đang ngồi vá nồi.

Ông chừng bảy mươi, lưng gù, tóc bạc trắng, mặc áo vá chằng vá đụp. Trước mặt ông là mấy cái nồi thủng của dân trong xóm, một hòn đe con, một cái búa.

Ông kê miếng vá vào chỗ thủng, giơ búa, gõ.

Cạch.

Bàn tay phải của ông cụt mất ngón cái.

Vết cụt cũ, lành hẳn, gọn ghẽ. Không phải tai nạn. Người ta không mất ngón cái vì tai nạn mà mặt cắt phẳng như thế.

Cái đó là tự chặt.

Người khảm ngọc mà mất ngón cái thì hết đời. Ngón cái là ngón giữ đá.

Ta cầm cây trâm phượng, đặt xuống nền đất trước mặt ông.

Tiếng búa dừng.

Ông lão nhìn cây trâm rất lâu.

Rồi ông đặt búa xuống, rất chậm, như người ta đặt một thứ gì đó xuống lần cuối cùng.

"Ta chờ ba năm rồi." Ông nói.

Đàm lão không chối một câu nào.

Ta cứ tưởng ta sẽ phải gặng, phải dọa, phải bày mưu. Cha ta dạy ta ba mươi cách moi lời một người bán hàng nói dối.

Ta không dùng đến cách nào.

Ông kể như người ta trút một cái bao đá đeo trên lưng đã quá lâu.

"Đơn hàng ba nghìn bộ. Tháng tư năm ấy. Giao trước tháng chín." Ông nói. "Sắt thì họ đưa. Ta chỉ đúc, chỉ tán đinh, chỉ sơn."

"Ông biết nó mỏng." Ta nói.

"Biết chứ." Ông đáp. "Ta làm nghề năm mươi năm. Ta cầm miếng sắt lên là ta biết nó chết mấy người."

Ông ngẩng lên. Mắt ông đục, nhưng không mù. Chỉ là thứ nước mắt của người già đã cạn từ lâu, chỉ còn lại một lớp màng.

"Ta có hỏi. Ta hỏi ông cai đưa hàng: cái này ra biên ải thật à? Ông ta bảo: hàng dự bị thôi, để trong kho, có ai mặc đâu."

"Ông tin?"

"Không." Đàm lão nói. "Ta không tin. Ta vẫn làm."

Ông nhìn xuống bàn tay cụt ngón của mình.

"Cô nương. Cô làm nghề định giá. Cô nói cho ta nghe — một người biết mình đang đúc cái chết, mà vẫn đúc, vì ba nghìn bộ ấy trả công đủ nuôi cả xưởng bốn mươi miệng ăn trong hai năm — thì người ấy đáng giá bao nhiêu?"

Ta không đáp được.

"Ai đặt hàng?" Bùi Yến hỏi. Đó là câu đầu tiên chàng nói từ lúc bước vào miếu.

"Ta không biết."

"Đàm lão—"

"Ta thật không biết." Ông lắc đầu. "Có một ông cai tới. Ông cai ấy chết năm sau. Rồi có người khác tới trả tiền. Người trả tiền cũng không biết mình trả cho ai — hắn chỉ đếm bạc."

Ta thấy Bùi Yến siết tay lại.

Ba năm. Chàng bán cả cái nhà mình. Và đến cuối cùng, con đường vẫn chỉ dẫn tới một ông già vá nồi trong miếu đổ.

"Nhưng ta nhớ một chuyện." Đàm lão nói.

Ta ngẩng phắt lên.

"Cùng tháng ấy, họ đưa tới một đơn nữa. Đơn con." Ông chỉ cây trâm trên nền đất. "Cái này."

"Một cây trâm."

"Ừ. Một cây trâm, một cái vòng ngọc, một cái hộp gỗ. Họ đưa đồ thật tới, bảo ta làm y hệt, làm xong trả cả thật lẫn giả." Ông nhíu mày, như đến giờ vẫn còn thấy lạ. "Ta làm nghề năm mươi năm, chưa thấy ai đặt kiểu ấy bao giờ. Người ta thuê ta làm giả là để bán cái thật đi. Đằng này họ giữ cả hai."

"Họ trả lại cái thật cho ông?" Ta hỏi.

"Ừ. Cả ba món thật, họ mang đi. Bảo trả về chỗ cũ."

Ta liếc Bùi Yến.

Ba món thật của mẹ chàng, họ mang đi.

Ba món giả, họ để lại trong viện khóa ba năm, rắc bụi lên cho đều.

Nghĩa là họ không tráo để lấy đồ.

Họ tráo để **giữ** — giữ cái thật ở chỗ khác, và để cái nhà này tưởng nó vẫn còn.

Trong ba món ấy có thứ gì đó. Và họ không muốn Bùi Yến chạm vào nó.

Bùi Yến đưa tay vào ngực áo, lấy ra cái túi vải thô, mở ra, đặt phiến giáp xuống nền đất bên cạnh cây trâm.

Đàm lão nhìn nó.

Rồi mặt ông xám đi.

"Ta mua nó ba đồng." Bùi Yến nói. "Ở một hàng sắt vụn ngoài cửa Đông. Ta không biết nó thật. Ta chẳng biết cái gì thật cả."

Chàng ngồi xuống, ngay trên nền đất bẩn, ngang hàng với ông lão vá nồi.

"Ta chỉ gõ vào nó một cái." Chàng nói. "Và nó kêu đúng cái tiếng ta nghe suốt một đêm trên tường thành Vọng Sa."

Ba năm chàng đi mua sự thật bằng mắt, và mua toàn hàng giả.

Món thật duy nhất chàng từng mua, chàng mua bằng tai. Ba đồng.

Đàm lão bắt đầu run.

Không phải run vì sợ. Là cái run của người già khi cái gì đó bên trong vỡ ra.

Ông đưa tay lên, định cầm phiến giáp, rồi lại rụt về.

Bùi Yến với lấy cái nồi thủng bên cạnh, kê nó lên đe, giữ chặt cho ông.

Không ai nói câu nào.

Ông lão cầm búa lên, gõ một cái.

Cạch.

Rồi ông khóc.

Mãi lúc ta đứng dậy ra về, Đàm lão mới nhìn kỹ mặt ta.

Ông nhìn rất lâu. Lâu đến mức ta thấy gai gai sau gáy.

"Cô nương." Ông hỏi. "Cô... họ Tô?"

Ta khựng lại.

"Con gái ông Tô Bình. Nhất Ngôn Đường phố Vĩnh Hòa."

Ta không đáp được một chữ.

Đàm lão đứng dậy.

Rồi ông làm một việc khiến ta lùi lại một bước — ông quỳ xuống, dập đầu xuống nền đất trước mặt ta, ba cái, kêu bình bịch.

"Đàm lão—"

"Cha con..." Giọng ông vỡ ra. "Cha con còn sống chứ?"

"Còn." Ta nghe giọng mình như của người khác. "Cha ta mù."

Ông lão gục xuống.

"Ta xin lỗi con." Ông nói. "Tháng tám năm ấy, ta túng quá. Ta ôm cái phiến giáp ấy đi cầm."

"Cả cái phố ấy, ta chọn đúng cái tiệm không bao giờ nói dối."



Bình luận
Sắp xếp
    support Nhắn tin
    Loading...