Bất ngờ bị nhắc đến, khuôn mặt nàng đỏ bừng. Nàng vội đứng dậy, cúi người hành lễ với lão tổ tông và Lý phu nhân.
"Đa tạ lão tổ tông và cữu mẫu đã nhọc lòng vì con."
Lý phu nhân không nhìn nàng, cũng chẳng nở nụ cười.
Lão tổ tông ngắm A Xuân một lượt rồi hiền từ nói:
"A Xuân mặc màu này cũng đẹp lắm. Giữ lại thêm hai cây nữa cho con bé đi. Phần còn lại thì tìm thêm bốn cây vải khác, gói chung mang sang phủ Xương Ninh Hầu tặng Mạnh tiểu thư."
Lý phu nhân khẽ đáp: "Vâng."
A Xuân biết lão tổ tông yêu thương mình, nhưng không ngờ lại thương đến mức ấy.
Khi trở về Tàng Xuân Ổ, thứ được đưa đến không chỉ có hai cây Hàng La màu Thiên Thủy Bích mà còn thêm hơn mười cây gấm vóc đủ loại, từ lăng, la, lụa, sa, quyên, tiêu, trứu... không thiếu thứ gì.
Cùng với đó là đủ loại trâm cài, hoa cài, vòng ngọc được đặt ngay ngắn trong những hộp gỗ đàn hương. Tất cả đều do Triệu ma ma, người hầu cận lão tổ tông, dẫn theo hơn mười nha hoàn mang đến.
Triệu ma ma luôn cười hiền hậu, nói năng nhỏ nhẹ, nhưng làm việc lại cực kỳ gọn gàng. Nha hoàn bỏ mặc A Xuân giữa trưa vì phạm lỗi nên đã bị đuổi khỏi Tàng Xuân Ổ. Lão tổ tông lập tức cử một nha hoàn khác đến thay, tên là Thu Sương.
Triệu ma ma nói rất uyển chuyển: "Trong thời gian tới, lão tổ tông phải dốc sức lo liệu hôn sự của Đại gia nên e rằng không thể thường xuyên để mắt đến chỗ cô nương. Sau này nếu cô nương có chuyện gì, cứ việc tìm lão nô."
A Xuân dịu dàng đáp: "Hôm nay làm phiền ma ma vất vả đưa đồ đến. Ma ma ở lại dùng chén trà rồi hãy về."
Triệu ma ma mỉm cười từ chối. A Xuân đích thân tiễn bà ra tận cửa, lặng lẽ nhét vào tay bà ít bạc vụn làm lễ. Thu Sương đứng bên cạnh nhìn tất cả, trong lòng thầm tán thưởng. Vị biểu cô nương này quả thật là người hiểu chuyện.
Thu Sương vốn là người thẳng thắn. Nhận lệnh lão tổ tông xong, nàng lập tức bắt tay chỉnh đốn Tàng Xuân Ổ.
Nơi đây vốn là thư phòng của Thẩm Sĩ Nho. Sau khi ông được điều ra ngoài nhậm chức thì bỏ trống đến nay. Đám nha hoàn và tiểu tư mới được phân đến đều biết rõ xuất thân của A Xuân, cho rằng nàng chỉ là cô gái đến từ vùng quê xa xôi nên ai nấy đều làm việc lười biếng, qua loa.
Ngay trong buổi chiều đầu tiên, Thu Sương đã lập tức đặt ra quy củ. Người đáng phạt thì phạt, người đáng thưởng thì thưởng, từng lời từng việc đều đâu ra đấy, khiến ngay cả A Xuân cũng nghe đến ngẩn người.
Nàng lớn lên giữa phố chợ và thôn quê, nào đã từng chứng kiến cảnh quản gia nghiêm ngặt như thế. Thu Sương cũng rất nghiêm khắc với chính A Xuân.
"Cô nương," nàng nghiêm túc nói, "từ hôm nay người đã là tiểu thư của phủ Hầu. Sau này sẽ thường xuyên theo phu nhân ra ngoài dự tiệc, thăm viếng. Thể diện của người chính là thể diện của lão tổ tông, cũng là thể diện của toàn bộ phủ Hầu. Vì thế những quy củ này, người nhất định phải học."
Suốt cả buổi chiều vất vả, A Xuân chỉ mới học xong cách hành lễ. Đến lúc tưởng rằng cuối cùng cũng được nghỉ ngơi thì nàng lại không thể dùng bữa tối với mẫu thân. Lão tổ tông sai người đến truyền lời, bảo nàng sang Mục Hòa Đường.
Vừa bước vào sân Mục Hòa Đường, A Xuân không để ý phía trước nên bất ngờ va mạnh vào một người. Cú va rắn chắc đến mức trán nàng đập thẳng vào lồng ngực đối phương.
Nàng ôm lấy trán còn chưa kịp hoàn hồn thì đã nghe Thu Sương cuống quýt lên tiếng:
"Biểu cô nương mới vào phủ, quy củ vẫn chưa học hết nên nhất thời sơ ý mạo phạm Đại gia. Mong Đại gia rộng lòng đừng trách."
Ánh đèn lồng Thu Sương xách trên tay hắt xuống vừa đủ để A Xuân nhìn rõ vạt áo của Thẩm Duy Trinh. Đó là một màu lam sẫm trầm lắng, trên nền vải được thêu dày những nhành trúc bằng chỉ bạc, dưới ánh nến mờ càng thêm thanh nhã.
Mục Hòa Đường cây cối um tùm, cành lá sum suê, lúc nãy nàng hoàn toàn không nhìn thấy hắn đứng ở đó.
Ban ngày, thị lực của A Xuân rất tốt, từ khoảng cách hơn trăm bước nàng cũng có thể dùng ná cao su bắn trúng con sâu đang bám trên lá vải. Thế nhưng cứ đến khi trời tối, đôi mắt nàng lại chẳng khác nào bị hỏng, thậm chí nhìn mọi thứ còn kém hơn người bình thường.
A Xuân vội đưa tay vịn lấy thân cây chuối bên cạnh để đứng vững. Giọt sương đọng trên lá chuối theo đường gân lá chầm chậm rơi xuống, vừa vặn đáp lên giữa trán nàng. Cảm giác lạnh buốt khiến lòng nàng càng thêm thấp thỏm. Nàng ngẩng mặt lên, khẽ gọi: "Ca ca..."
Ánh đèn quá tối, nàng không thể nhìn rõ gương mặt Thẩm Duy Trinh, chỉ ngửi thấy trên người hắn phảng phất mùi đàn hương thanh nhã, trầm ổn mà kiềm chế, hương thơm rất nhẹ, rất nhạt.
Ngay sau đó, nàng nghe giọng hắn cất lên đầy kỳ lạ: "Ca ca?"
Trái tim A Xuân chợt lạnh đi. Quả nhiên... Hắn không chịu thừa nhận người "muội muội" như nàng.
"Thẩm công tử."
A Xuân không nhìn rõ, cũng chẳng dám nhìn nhiều, sợ sẽ bắt gặp vẻ chán ghét trên gương mặt vị huynh trưởng này. Nàng cúi đầu, theo đúng tư thế Thu Sương vừa dạy mà hành lễ.
"Đôi mắt ta có tật, ban đêm nhìn không rõ, vừa rồi thật sự không biết công tử đang đứng ở đây..."
Khóe mắt nàng thoáng thấy hắn chậm rãi lùi về sau một bước, cố ý kéo giãn khoảng cách giữa hai người. A Xuân cắn nhẹ môi, những lời còn lại lập tức nghẹn nơi cổ họng.
"Muội là Tĩnh Huy?"
Thẩm Duy Trinh lên tiếng hỏi.
"Mắt bị làm sao?"
"Tĩnh Huy là cái tên lão tổ tông mới ban hôm qua. Công tử cứ gọi ta là A Xuân là được."
Nàng vẫn cúi đầu đáp.
"Ban đêm muội không nhìn rõ đồ vật. Đại phu nói không thể chữa khỏi, đây là bệnh mang từ trong bụng mẹ, bẩm sinh đã như vậy."
"Xuân" vốn là một tên gọi tao nhã khác của hoa sơn trà.
Nam Ngô Châu quanh năm khí hậu nóng ẩm, bốn mùa như xuân, mưa nhiều, rất thích hợp để sơn trà sinh trưởng.
Mẫu thân nàng đặt tên nàng là A Xuân cũng chỉ mong nàng có thể giống như loài hoa ấy, nở khắp núi đồi, tự do tự tại, không bị điều gì trói buộc.
Sau này lão tổ tông lại cho rằng con gái cũng phải có một cái tên đàng hoàng, cái tên "Thẩm A Xuân" nghe thực sự quá quê mùa, không xứng với thân phận hiện tại.
Trước kia Thẩm Duy Trinh vốn từng có một người muội muội, đáng tiếc đứa bé chưa kịp chào đời đã yểu mệnh. Khi ấy lão tổ tông đã tra sách chọn sẵn hai chữ "Tĩnh Huy", nhưng nhiều năm vẫn chưa có dịp dùng đến, giờ vừa hay ban lại cho A Xuân.
Còn chứng bệnh ở mắt... Quả thật A Xuân cũng không còn hy vọng gì nữa.
Cha của Thẩm Duy Trinh là Thẩm Sĩ Nho cũng mắc chứng bệnh tương tự. Thuở còn trẻ ông từng tìm khắp danh y mà vẫn vô phương chữa trị.
Đến lượt nàng thì càng không dám mong mỏi. Thẩm Duy Trinh lặng im, hắn không nói thêm một lời nào, chỉ thản nhiên bước ngang qua người nàng rồi rời đi.
A Xuân vẫn luôn cúi đầu. Mãi đến khi tiếng bước chân của hắn khuất hẳn, nàng mới khẽ chớp mắt, không sao cả. Nàng tự nhủ, như vậy mới là bình thường. Đổi lại là nàng, nàng cũng sẽ không thích một đứa trẻ đã cướp đi toàn bộ sự yêu thương vốn thuộc về cha mẹ mình.
Chỉ là... A Xuân khẽ siết chặt tay áo. Dù đã chuẩn bị trước, nhưng khi bị người khác ghét bỏ, trong lòng vẫn khó tránh khỏi cảm giác buồn tủi.
Ánh trăng trắng nhạt phủ khắp sân. Nhìn vẻ thất thần của A Xuân, Thu Sương bất giác thấy xót xa. Vị biểu cô nương họ hàng xa này chỉ vì được lão tổ tông thương yêu nên mới được đón vào phủ. Tuổi còn nhỏ, dung mạo lại đẹp như tiên, thế nhưng số phận lại lắm gian truân.
Lúc chiều dạy quy củ, Thu Sương đã để ý thấy mười đầu ngón tay của A Xuân đều phủ đầy vết chai, trong lòng bàn tay còn có không ít vết sẹo nhỏ. Kết hợp với những chuyện từng nghe trước đây, nàng biết cô gái này hẳn đã phải chịu không ít khổ cực.
Buổi tối hôm ấy, lão tổ tông vô cùng hài lòng với cử chỉ và lễ nghi của A Xuân. Thu Sương cuối cùng cũng thở phào nhẹ nhõm.
Trước khi phái nàng đến Tàng Xuân Ổ, lão tổ tông từng đặc biệt dặn dò phải chăm sóc vị biểu cô nương này thật chu đáo.
Điều Thu Sương lo lắng chưa bao giờ là A Xuân mang theo dáng vẻ quê mùa, mà là sợ nàng kiêu ngạo, không chịu học quy củ.